Chuyến hành hương “Đợi chờ” đến Florida

                                         Mai Đào
 

Nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu, một chuyến hành hương do chùa Pháp Luân tổ chức đi từ Houston đến Florida để dự lễ Vu Lan, thăm viếng các chùa và một vài nơi tại đây, trưởng ban tổ chức là anh Trần Kim Long, dưới sự hướng dẫn của Thượng Tọa Thích Giác Đẳng.

Theo chương trình đã hoạch định cho chuyến đi này là từ ngày 19 đến ngày 23, phái đoàn sẽ thăm viếng vùng đảo Amelia và tắm biển, thăm thành phố Jacksonville, dự lễ an vị Phật và lễ Vu lan tại chùa Tịnh Tâm, thăm Tố Phong tịnh xá của Đại Đức Thích Giác Nguyên, và sau đó sẽ lên đường đi Tampa Bay đến ST.  Petersburg,  đi “chợ trời” có bán trái cây, tham dự lễ Vu Lan tại chùa Phật Pháp của Đại Đức Thích Trí Tịnh, đi thăm vườn trái cây hoặc tắm biển và sáng sớm thứ  Hai ngày 23 tháng 8 năm 2010 phái đoàn sẽ lên đường trở về lại Houston.

Florida có nghĩa là Vùng Nở Hoa, có hơn 1,500 miles bờ biển chạy dọc theo miền duyên hải, có dân số trên 18 triệu dân. Thủ phủ là Tallahassee.  Ngày nay Florida có nhiều thành phố lớn và là nơi để đi du lịch như Pensicola, Jacksonville, Orlando được nổi tiếng về Team Park, Miami được biết qua điện ảnh của Hoa Kỳ, còn những vùng như Tampa Bay, Clear water, ST. Petersburg  là nơi những người vùng Bắc thường về định cư và người  Việt Nam thường tập trung tại những vùng này,  Homestead có vườn trái cây Á Châu.

Để thăm viếng Florida thời gian tốt nhất là tháng 5 vì lúc đó khí hậu vẫn còn mát mẽ, tháng 6 và 7 mùa của du khách,  tháng 8 khá nóng, tháng 9 và 10  tương đối khá mát nhưng bị đe dọa của bảo rất nhiều.

Thứ Năm ngày 19/ 8/2010 vào lúc 6:20 sáng, một chiếc xe Bus chở 32 người dưới sự hướng dẫn của TT Thích Giác Đẳng đã rời chùa pháp Luân lên đường trực chỉ về hướng Florida. Cuộc hành trình với sự dừng lại cho phái đoàn nghỉ ngơi ăn trưa và tối, dự định sẽ đến khách sạn Quality Inn tại Jacksonville vào lúc 2 giờ sáng. Cô Beverly người tài xế xe Bus đã đưa phái đòan rời thành phố khi mà màn đêm vẫn còn bao phủ. Vừa ra khỏi nơi nhộn nhịp của thành phố, Thượng tọa Giác Đẳng đã hướng dẫn mọi người tụng kinh Tam Bảo để hồi hướng Chư Thiên,  cầu xin Chư Thiên gia hộ cho phái đoàn đi đường bình an, vô sự. Sau đó Thượng tọa đã có đôi điều giới thiệu về Florida cũng như chương trình cho những ngày sắp tới. Mọi người đều tươi cười hớn hở trong niềm vui, niềm nao nức cho chuyến đi này. Sau thời kinh Tam Bảo mọi người được nghỉ ngơi vài tiếng. Buổi sáng thời tiết còn mát cộng thêm máy lạnh được mở nên trong xe không khí thật dễ chịu.

Đường xá tại Hoa Kỳ tốt nên đi du lịch bằng đường bộ cũng thật là thú vị, xe chạy bon bon thật êm. Nhưng chì vài tiếng đồng hồ sau đó thì máy lạnh hình như  có vấn đề, mọi người cảm thấy nóng và ngộp, đến Baton  Rough của Louisiana, thì mọi người không chịu được nửa vì máy lạnh không còn làm việc, cô tài xế Beverly phải thả mọi người vào một Department store JC Penny, nơi có máy lạnh để phái đoàn đợi chờ trong thời gian cô đi tìm chổ check máy lạnh, vì vậy mọi người đã được đi shopping  bắt đắc dĩ. Phải mất hơn 3 giờ đồng hồ, mọi người hết ngồi lại đứng, cuối cùng thì cô Beverly cũng đã trở lại sau khi đã tìm ra vì bị lick nên máy lạnh đã hết freeon. Tới Mobile của Alabama, anh Joseph người tài xế thứ 2 được thay cho cô Beverly tiếp tục cuộc hành trình.

Xe đã chạy vượt qua Louisiana, Mississippi, Alabama và cuối cùng đã đến  Jacksonville của Florida. Đi đến đâu, qua những tiểu bang nào, Thượng tọa Giác Đẳng cũng đều giới thiệu những đặc điểm của vùng đó. Vì phải ngừng lại sửa máy lạnh, nên đến 5:30 sáng phái đòan mới tới khách sạn để nghỉ ngơi.

Thứ Sáu ngày 20/8/2010, tuy về khách sạn rất trễ, nhưng có lẻ vì háo hức để đi thăm quan, nên mới khoảng 8 giờ sáng mọi người đều thức dậy xuống Lobby ăn sáng, sau đó tưởng rằng sẽ được khởi hành vào lúc 9giờ, nhưng rồi phải ngồi đợi chờ anh tài xế ngủ đủ giấc, đến gần 12 giờ trưa phái đoàn mới được rời khỏi khách sạn để đi ăn trưa tại nhà hàng East Coast Sushi and Grill. Đây cũng là một kỷ niệm thật vui, phái đoàn được một người Phật tử trong vùng là anh Thanh hướng dẫn, rất tiếc vì anh là Bác sĩ và là Chủ tịch Cộng đồng chỉ thường xuyên xuống sinh hoạt vùng này nhưng không pải là người địa phương, nên khi anh hướng dẫn đường mà lại không rành đường nhiều nên để tới nhà hàng đó, xe phải chạy vòng vòng hơn cả tiếng đồng hồ, ngay khi vào khu shopping của nhà hàng rồi nhưng lại không tìm ra chổ, tuy bụng đã đói nhưng mọi ngưòi cũng phải bật cười lên vì  xe cứ chạy qua chạy lại trước Home Depot  và Target mà nhà hàng thì đâu chẳng thấy, nhưng cuối cùng thì mọi người cũng đã có một bửa ăn thật ngon miệng. Sau đó anh Thanh đã hướng dẫn phái đoàn đi thăm một vòng phố và đảo Amelia.

Amelia là một hòn đảo thật đẹp, cát trắng, nước biển trong xanh. Xe đã đưa  phái đoàn đi thăm môt vòng  thành phố của đảo.  Đây là nơi người Tây Ban Nha đã đến đây rất sớm, phố chính vẫn còn giữ Phố Cổ dưới thời thuộc địa Anh, phần lớn những căn nhà ở đây được xây cất thời xa xưa.

Sau đó phái đoàn đã đến phía Nam của đảo để có thể tắm biển hay dạo mát dưới bãi biển. Không may khi phái đoàn vừa đến biển thì trời bắt đầu chuyển mưa. Nhưng trời mưa thì mặc trời mưa, cũng có trên 10 người vì quá “yêu nước” không ngần ngại đã nhảy xuống biển tắm, đây cũng là một kỷ niệm thật vui, vì được tắm biển và vừa được tắm nước mưa bất đắc dĩ nửa. Nhìn những người tuổi tuy đã lớn, đang vui cười, đùa giỡn tắm biển dưới mưa, lòng tôi cảm thấy một niềm vui khôn tả. Những giờ phút như vầy chúng ta khó mà tìm lại được lần thứ 2. Vì mai nay mốt nọ ai ai rồi cũng lần lượt ra đi. Nơi đây vốn dĩ chỉ là quán trọ trong kiếp luân hồi sinh tử mà thôi. Gặp nhau rồi chia tay. Lòng tôi không khỏi bùi ngùi. Vì vậy nếu có những gì tốt đẹp chúng ta có thể dâng tặng cho nhau thì đừng nên ngần ngại. Tôi rất thích một câu hát của Trịnh Công Sơn:

“ Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, đề gió cuốn đi…” vâng đúng vậy, dù chỉ để gió cuốn đi…

Vừa tắm biển xong, phái đoàn đã được anh chị bác sĩ Dũng đệ tử của Sư Giác Nguyên, đãi cho ăn Xôi lạp xưỡng tôm khô và chà bông ngay tại bãi biển.. Phải nói rằng anh chị Thanh và anh chị Dũng đã bỏ nhiều thời gian để đón tiếp phái đoàn một cách rất nhiệt tình.  Xin chân thành cám ơn quý anh chị về tấm thịnh tình này.

Sau đó phái đoàn được đưa đi xem vòng quanh phố Jacksonville và đi ăn tối ở một quán phở tại địa phương. Rồi về lại khách sạn để nghỉ ngơi sớm vì ngày hôm sau là một ngày rất bận rộn cho phái đoàn.

Thứ Bảy ngày 21/ 8/2010 Chùa Tịnh Tâm. Sau buổi điẻm tâm tại khách sạn, vào khoảng 8 giờ sáng, xe Bus đưa phái đoàn rời khách sạn để đi đến chùa Tịnh Tâm tham dự lễ an vị Phật, lễ Vu Lan và lễ cầu siêu nhị thất cho Sư Bà Diệu Từ và tam thất cho đạo hữu Lê Minh Chí.

 Một nhóm Phật tử có tín tâm đã cùng nhau tạo mãi một căn nhà, chỉ sau vài tháng góp công sức để chỉnh trang, căn nhà này đã biến thành một ngôi chùa với một ngôi chánh điện thật nghiêm trang và ấm cúng.

 Buổi lễ dưới sự chứng minh của TT Thích Giác Đẳng, Đại Đức Thích Trí Tịnh, ĐĐ Thích Giác Nguyên, Thượng tọa Nalanda và Thượng tọa Ananda. Dưới ánh hào quang của mười phương Chư Phật, Chư Tăng cùng chư Phật tử đã thành tâm tụng kinh Việt và Pali Xưng tán Ân Đức Tam Bảo và làm lễ an vi Phật. Nhân đây ĐĐ Giác Nguyên nói về ý nghĩa của Tam bảo:  Chư Phật đều là những bậc Lưỡng Túc Tôn - giữa loài đi bằng hai chân thì Đức Phật là bậc tối thắng. Chánh Pháp mà Đức Phật thuyết giảng là Ly Dục Tôn (Pháp ly dục tối thượng). Chư Tăng là Phước Điền Tôn (Phước điền vô thượng).

Tiếp theo là buổi lễ Vu Lan. Lễ Tam Bảo, kinh Lễ Sám Hối Phụ Mẫu để những người con có cơ hội trước Tam bảo thành tâm sám hối những lỗi lầm của mình đối với Cha Mẹ.

Thượng tọa  Nalanda ban cho đại chúng một thời pháp, Ngài tán thán về đạo tâm của người Việt Nam và nhân ngày lễ Vu Lan Ngài đã nói về sự Tri Ân và Báo Ân, Ngài có nhắc đến một câu nói thật cảm động của dì mẫu Mahabasabade, trước khi viên tịch đã đến đảnh lễ Đức Phật và thưa rằng : “ Bạch Đức Thế Tôn, từ xưa khi Đức Thế tôn còn tấm bé, đã nuôi dưỡng Đức Thế Tôn bằng sữa của chính mình, nhưng từ khi xuất gia vào  giáo pháp này, chính Đức Thế Tôn là cha là mẹ, Pháp nhủ của Ngài đã nuôi lớn đệ tử, bạch Đức Thế Tôn cho phép đệ tử viên tịch Niết Bàn.”  Sau khi Dì mẫu viên tịch chính tự tay Đức Thế Tôn đến nhận di cốt của Dì mẫu. Điều này cho thấy ngay cả Đức Phật cũng bày tỏ lòng hiếu thảo, huống chi là chúng ta.

 Sau cùng là Lễ Nhị thất của Sư Bà Diệu Từ (thân mẫu của TT Giác Đẳng, ĐĐ Trí Tịnh và ĐĐ Giác Nguyên) và Tam thất cho Đạo hữu Lê Minh Chí (phu quân của đạo hữu Từ Thuận). Khoảng 11:30 cúng dường Trai Tăng, chư Phật tử dùng cơm trưa. Máy lạnh của xe Bus bi trở ngại, trong thời gian này một vài người phụ cố gắng để sửa chửa. Tuy vây mọi người phải đợi chờ đến gần 2giờ trưa xe vẫn chưa sửa xong.  Phái đoàn đã phải nhờ những đạo hữu của chùa Tịnh Tâm chở đi bằng những xe nhỏ đến thăm viếng Tố Phong Tịnh xá của ĐĐ Giác Nguyên.

Trong thời gian chờ đợi xe Bus, chư Tăng và Phật tử có một buổi trà đàm thật thân mật.

Tố Phong Tịnh xá, Tố Phong theo sự gỉải thích của ĐĐ Giác Nguyên, Tố là đi theo, Phong là gió, trong võ thuật là mượn lực của đối phương để tấn công đối phương, người tu học cũng vậy, không chạy theo cái danh, cái sắc.. (bát phong) nhưng  mượn cái đà của bát phong  để quật lại 8 ngọn gió này. Và Sư nói thêm rằng:  Hạnh phúc hay đau khổ của mỗi người đều do hai bàn tay mình tạo ra, vấn đề là chúng ta thuận tay nào mà thôi.

ĐĐTrí Tịnh nhân qua sự mất mát Bà Thân, Sư muốn gởi đến mọi người một điều là khi mà bên cạnh còn có Cha Mẹ, người thân, hay bạn bè nếu còn có nhau bên cạnh, ngày nào còn sống được trong tình thương, hãy cho nhau những gì tốt đẹp để đến khi người đó ra đi rồi mình không hối tiếc.

 Chúng ta thường không biết qúy trọng những gì chúng ta có trong tầm tay, sống bên cạnh nhau ít khi chúng ta biết lo lắng cho nhau cho đến khi mất nhau rồi thì… Tôi rất thích bản nhạc “Nếu có yêu tôi” thơ Ngô Tịnh Yên, Trần Duy Đức phổ nhạc 

“…Có tốt với tôi thì hãy tốt với tôi bây giờ, đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời, đừng đợi ngày mai đến khi tôi phải ra đi, cát bụi làm sao mà biết mĩm cười…”

Một tượng Phật lớn màu trắng, một vài bình hoa được chưng một cách đơn giản, một vài Phật cụ, những bức tranh kèm theo vài câu thơ tất cả đều được trang trí hài hòa đã tạo cho Chánh Điện của Tố Phong tuy nhỏ nhưng thật ấm cúng và mỹ thuật.

Khoảng gần 4 giờ thì xe Bus đã sửa xong, phái đoàn vội vả  lên đường hướng về Tampa Bay để đến ST. Petersburg, nơi có ngôi chùa Phật Pháp do ĐĐ Trí Tịnh làm trụ trì, tuyến đường đi khoảng hơn 4 tiếng, dự trù khoảng 8 giờ thì đến nơi. Nhưng không may xe vừa chạy khoảng 3 tiếng, vừa đến Orlando thì xe không chạy được nửa vì dây belt bị đứt. Đây cũng là một đêm hãi hùng đáng nhớ. Còn khoảng 1tiếng rưỡi nữa mới đến Tampa, vì vậy mọi người đều dở khóc dở cười, ngồi trên xe thì nóng, xuống xe vì là xa lộ nên xe chung quanh chạy quá nhanh cũng nguy hiểm, nhưng cuối cùng vì sự an toàn mọi người đều phải ngồi trên xe, sau một lúc loay hoay để sửa, cuối cùng ông Joseph tài xế cũng có thể lái đưa phái đòan vào trong khu parking của một shopping gần đó để đợi chờ. TT Giác Đẳng đã liên lạc được ĐĐ Trí Tịnh và cuối cùng quý Sư đã quyết định giải pháp là huy động một phái đoàn 11 chiếc xe nhỏ của những Phật tử trong chùa Phật Pháp lên đón phái đoàn. Mọi người phải lái xe đi và về là 3 tiếng. Thật cảm kích tấm lòng nhiệt thành của quý Phật tử chùa Phật Pháp. Phái đoàn về tới khách sạn là 2giờ sáng. Đến đây thì mọi người không còn tin tưởng vào sự an toàn của chiếc xe Bus này nửa, đều quyết định tìm một chiếc xe Bus khác. Ngày Chủ Nhật là một ngày rất bận rộn với phái đoàn. Chương trình dự định 6giờ sáng đi “Chợ Trời trái cây”, ăn sáng, 10:30 dự lễ Vu Lan tại chùa Phật Pháp, và sau đó đi tham quan phố, biển hay là vườn trái cây. Nhưng vì trở ngại vấn đề xe Bus nên chương trình đi Chợ Trời phải hủy bỏ.

Chủ Nhật ngày 22/8/2010 lễ Vu Lan tại chùa Phật Pháp. Khoảng 9 giờ sáng, một số Phật tử chùa Phật Pháp đã đến khách sạn một lần nửa, lần lượt đón phái đoàn về chùa để dự lễ Vu Lan, trong thởi gian này anh Long đã cố gắng liên lạc khắp nơi để thuê xe Bus tiếp tục cuộc hành trình, vi thời gian quá gấp rút nên việc thuê một chiếc Bus lớn cũng gặp nhiều khó khăn.

Chùa Phật pháp thường tổ chức những gian hàng bán quán ăn chay, trái cây, hoa qủa ở ngoài sân vào những buổi lễ lớn do qúy Phật tử phát tâm. Trong thời gian chờ đợi buổi lể bắt đầu, bà con ăn uống mua sắm thật nhộp nhịp và có thể gây một ít ngân qũy cho chùa nửa.

11:00 Cúng dường Bát Hội, Chư Phật tử xếp hàng dài dọc theo hành lang Chánh Điện để Bát cúng dường, nhân đó TT Giác Đẳng đã giải thích sơ lược về ý nghĩa Vu Lan và cũng như ý nghĩa cúng dường vô phân biệt đến Chư Tăng là một phước sự vô cùng thù thắng để hồi hướng đến thân bằng quyến thuộc hiện tiền hay quá vãng nhân mùa Vu Lan.

Trong khi Chư Tăng thọ trai. ĐĐ Giác Nguyên đã ban đại chúng một thời pháp. Sư đã nhắc đến hình ảnh và về ý nghĩa của Bồ Tát Di Lặc như là điểm chính cho thời pháp: Đại Phúc năng dung, dung Thế gian nan dung chi sự. Từ nhan thường tiếu, tiếu thế gian khả tiếu chi nhân. (Bụng to chứa được, chứa chuyện thế gian khó chứa nhất.Khuôn mặt từ bi thường cười, Cười vào những chuyện đáng cười của thế gian). Bao nhiêu cũng tha thứ được, và cười mĩm vào nhữngchuyện như chúng ta đi chùa lâu mà phiền não vẫn còn hay chỉ lo về hình thức, đi đám tang mà không biết gì về vô thường v.v. Và nhân mùa Vu Lan Sư nhắc nhở chúng ta cố gắng tạo công đức để hồi hướng không những chỉ đến thất thế phụ mẫu mà còn đến tất cả những chúng sanh nào mà chúng ta đã gặp trên đường đời. Trong kinh có nói cuộc đời có ba hạng người mà chúng ta rất khó kiếm: 1- Sự ra đời của Chư Phật. 2- Người có thể giảng Giáo Pháp của Chư Phật một cách đứng đắn. 3- Người biết tri ân và báo ân. Thời gian chúng ta sống gần với người thân không nhiều vì vậy Sư khuyên chúng ta phải biết sống tận dụng thời gian đó để đối xử tốt với nhau. Chúng ta sẽ có một đời sống như thế nào hoàn toàn tùy thuộc vào đời  sống nội tâm của chúng ta bây giờ. Dục tri tiền thế nhân, kim thân thọ giả thị. Dục tri lai thế quả, kim thân tác giả thị.

12:00 Đại lễ Vu Lan chính thức bắt đầu. Chư Tăng quang lâm Chánh điện.Tụng kinh Tam Bảo, lễ Sám hối Phụ Mẫu, hồi hướng. Lễ Cầu Siêu.

Tiếp theo TT Giác Đẳng ban cho đại chúng một thời pháp. Sư đã lấy phim Avatar để làm điểm chính cho thời pháp. Avatar có nghĩa là Hóa Thân. Cuộc sống là một sự hằng chuyển, cuộc sống là một Avatar. Avatar là trong một khảy móng tay, sắc Pháp có tánh sanh diệt, tâm pháp sanh diệt. Ở trong mỗi sắc pháp, tâm pháp sanh diệt chúng ta luôn luôn đi trong trình trạng trở thành tha hóa nghĩa là trở thành, trở thành con người mới, với tâm mới, với thân mới, với yếu tố nội tại mới.  Chúng ta là một chúng sanh hằng chuyển trong cuộc đời, cái gì làm chúng ta giữ được những cảm xúc trong cuộc đời đó là nghiệp duyên. 

Buổi lễ kết thúc bằng một buổi lễ tưởng niệm đến Cha Mẹ bằng nghi thức dâng cúng một đóa hoa hồng dâng cúng đến Tam Bảo, cầu xin Tam Bảo gia hộ cho Cha Mẹ và thân bằng quyến thuộc còn hiện tiện tăng phước tăng thọ, đã qua đời vãng sanh thế giới an lành.

1:30 Chư Phật tử dùng cơm trưa và thưởng thức chương trình văn nghệ tại hội trường.

Không thuê dược xe Bus mới, nên sau khi được biết xe Bus cũ đã sửa xong, BTC đã quyết định thuê lại. Đúng là duyên nghiệp với ông Joseph tài xế và chiếc xe Bus này vẫn còn, nên không tránh đâu được. Mọi người vui vẻ chấp nhận. Vì vậy thay vì có xe để đi chơi vườn trái cây hay đi xuống biển, phái đoàn lại phải một phen ngồi trong Chánh Điện để đợi chờ xe Bus đến. Mãi đến gần 5 giờ, xe mới đến, vì vậy chỉ về khách sạn nghỉ ngơi và chuẩn bị đi ăn tối.

Sau buổi cơm tối, phái đoàn trở về chùa Phật Pháp, được TT Giác Đẳng cho mọi người xem phim Avatar, một phim mà từ lâu rồi Sư mới thấy hay và có ý nghĩa. Xem tới đâu Sư đã tận tâm giải thích tường tận về diễn biến của phim. Trước đây tôi cũng đã từng xem qua phim nầy nhưng không hiểu ý nghĩa cao siêu của nó nhưng nay được nghe sự giải thích của Sư qua cái nhìn Phật Pháp, tôi mới thấy cái hay cái đặc biệt của phim này.Theo sự giải thích sơ khởi của TT Giác Đẳngvề phim Avatar .

Avatar có nghĩa là Hóa Thân, Phim đã dùng con người địa cầu nhờ kỷ thuật tân tiến như là xác mượn hồn, để có thể đi thám hiểm những tinh cầu khác chẳng hạn như Pandora, trên đó những sinh vật sống như con người. Phim đã tác tạo ra một Avatar nghĩa là một người mượn xác của người Pandora, nhưng phần hồn là của người địa cầu, và lên tinh cầu Pandora để sống như họ. Khi mà anh Sam (diễn viên) đã lãnh sứ mạng nầy của điạ cầu đi vào đời sống của người Pandora,  để tìm hiểu và chinh phục họ. Để thành công trong sứ mạng anh phải quên mình đi để hòa nhập vào đời sống như họ. Và anh Sam đã yêu một cô gái của Pandora. Cô ta đã dậy cho anh hiểu thế nào về sự sống, sự liên hệ giữa con người và thiên nhiên, và từ đó anh mới thật sự hiểu và cảm thông về con người của Pandora. Và lúc đó anh thật sự là người Pandora. Câu hỏi là chúng ta như thế nào sau một thời biến xác như vậy, khi mọi thứ thay đổi, thay đổi hoàn toàn thì chúng ta sẽ ra sao?? Mình có đánh mất đi cái cốt lõi, mất đi cái Ta hay không?? Đây là một điều rất quan trọng. Chúng ta thường sống đóng khung với cái thấy, cái biết cái nghe qua ngã chấp của chúng ta. Theo Đức Phật thì như vậy chúng ta sống không hiểu về sự Vô thường. Các pháp hữu vi đều vô thường, nó hằng chuyển biến, sanh diệt liên tục.    

 Nhưng vì thời giờ đã khuya mọi người phải cần về để nghỉ ngơi vì sáng hôm sau phải dậy lúc 5 giờ sáng, vì vậy thật đáng tiếc phái đoàn chưa xem hết toàn bộ phim, tôi sẽ cố gắng tìm xem lại một lần nửa.

Thư Hai ngày 23/8/2010, 5:30giờ sáng, phái đoàn lên xe trở về Houston.

Phải nói rằng đây là một chuyến đi có nhiều trở ngại về vấn đề vận chuyển, 5 lần phải “đợi chờ” ( 2lần đợi sửa máy lạnh, 1 lần đứt dây belt, 1 lần đợi tài xế thức dậy, và 1 lần xe đến trễ). Chương trình chính của chuyến đi không bị trở ngại tuy nhiên vì thời gian để chờ đợi quá lâu nên có một vài mục đi tham quan thành phố phải hủy bỏ. Điều đáng cảm kích là mọi người trong phái đoàn đều vui vẻ, vẫn giữ vững tinh thần của chuyến hành hương rất đáng hoan hỷ. Biết đâu do chính những trở ngại xảy ra để thử thách lòng người có đủ kham nhẫn chăng??  Tất cả mọi người đã cùng nhau vui đùa, làm phước, cúng dường, lễ Phật trong tinh thần rất vui vẻ và hòa đồng. Sadhu! Lành thay!

Trên những chặng đường của chuyến đi, ngoài những thời tụng kinh Tam Bảo, lắng nghe sự hướng dẫn của TT Giác Đẳng giải thích chi tiết về địa danh đã đi qua, mọi người đã tổ chức những chương trình văn nghệ bỏ túi, cùng hát cho nhau nghe, cùng kể những mẫu chuyện vui, cùng nhau tâm tình những buồn vui trong cuộc đời.

Ngày 21/8 nhân ngày kỷ niệm 36 năm ngày cưới của anh chị Ninh và Thanh Mỹ, hai người đã lên chia xẻ về tình yêu của họ mặc dù qua bao nhiêu thăng trầm khổ cực trong đời sống dưới thời loạn ly, chiến tranh, tình yêu của họ vẫn bền chặt. Thật đáng cảm kích. Chúng ta khó mà tìm thấy được một tình yêu như vậy trong thời buổi nầy. Trong không khí thân mật, Anh Bé cũng đã lên Cảm tạ người bạn đời của anh là chị Kim Soan một cách chân thành. Cảm tạ vì đã can đảm lấy anh (anh cả trong gia đình 15 anh em).  Đã lo cho anh và các con đi học thành tài. Đã dám lấy anh một quân nhân trong thời chiến, mà hằng đêm lo sợ và đợi chờ. Và giờ đây khi mái tóc đã điểm màu thời gian thì đã cùng anh làm công quả tại chùa. Anh Long cũng lên cám ơn bà xã là chị Nguyễn Quyên đã cảm thông và hổ trợ về việc anh đã dành nhiều thời gian để lo cho chuyến đi nầy. Chị Tình đã chia xẻ cho mọi người một bài thơ thật hay và ý nghĩa, để chúng ta đáng suy ngẫm trong cuộc sống nầy:

Oa oa tiếng khóc trong nôi, thì ra tôi đã vào đời vô tư

Thư tình mấy lá thư rơi, thì ra tôi đã tạ từ ấu thơ

Ngày vui pháo nổ đường mơ, thì ra tôi đã đến bờ lứa đôi

Áo cơm bận bịu với đời, thì ra tôi đã xa rời tuổi xuân

Hôm nào tóc điểm hoa râm, thì ra tôi đã gian truân nửa đời

Sáng nào bổng thấy đơn côi, thì ra tôi đã mất người quen thân

Lòng nghe đau nhức trong đêm, thì ra tôi đã mon men tuổi già

Ngày nào sống giữa phong ba, thì ra tôi đã vượt qua kiếp người

Tử sinh gian díu cuộc đời, sao tôi cứ mãi là người ngạc nhiên.

 

Đặc biệt và cảm động hơn hết đó là câu chuyện của cháu Paul 21 tuổi (con của anh Thọ) kể lại những lỗi lầm đã làm khi còn ở tuổi 15,16. Cháu đã biết từ bỏ, sám hối cùng Cha Mẹ và đã quay về nẻo chánh, hiện cháu là sinh viên năm thứ 2 tại đại học. Sadhu! Lành thay! Xin cám ơn Cháu đã thành thật chia xẻ những điều này.

Mọi người đều bày tỏ niềm tri ân sâu xa với TT Giác Đẳng đã từ bi và hoan hỷ không ngại khổ cực để hướng dẫn những chuyến đi như thế nầy để mọi người có cơ hội sống gần nhau, thư gỉản tinh thần, không lo toan, vui trong tình đạo, có cơ hội tạo phước báu và đặc biệt được đi và biết về một nơi chốn mới lạ.

Mọi người cũng đã cảm ơn anh Long rất nhiều, người đã lo về vấn đề vận chuyển cho phái đoàn, nhất là lúc xe bị trở ngại thì anh là người chạy đôn chạy đáo để liên lạc về văn phòng của hãng xe để tìm giải pháp.

Và đặc biệt hơn hết là xin cảm ơn tất cả những người bạn đồng hành đã biết cùng nhau hợp tác để tất cả chúng ta cùng có một chuyến đi thật đáng hoan hỷ. Sadhu! Lành thay!

Mọi người hình như vẫn còn luyến tiếc chuyến đi thật ngắn ngủi và ngày vui lại qua mau, nên trước khi chia tay mọi người đều xin TT Giác Đẳng cố gắng tổ chức một chuyến đi khác như đi thăm mùa Thu ở Colorado hay là mùa hoa Anh Đào nở ở Washington D.C. Sư đã vui lòng hứa khả.

Xin hẹn ngày tái ngộ vào những chuyến đi khác.

                                                                                      28/8/2010

 

Ngưỡng vọng… về Đức Tăng Thống

                                                                                                                Từ Hạnh

 

                 Kính lạy giác linh Thầy, kính lạy giác linh Thầy… Thầy ơi… Thầy ơi… Thầy ra đi như một hành tinh lạc, Thầy đi vào vô biên chúng con buồn ngơ ngác..” 

                Kể từ khi Đức  Đệ Tứ Tăng Thống của GHPGVNTN Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền hạ Quang viên tịch, mỗi lần nghe bản nhạc này, lòng tôi đã không cầm được nước mắt với sự xúc động khôn nguôi. Đọc qua Công nghiệp hoằng hóa lợi sanh của Ngài suốt hơn 30 năm qua, tôi thầm hãnh diện một đất nước Việt Nam, Phât Giáo Việt Nam đương đại có được một bậc Danh Tăng cả cuộc đời hy hiến cho Dân Tộc và Đạo Pháp.  Cuộc đời Ngài như đã gắn liền với vận mệnh  dân tộc và đất nước Việt Nam.  Một người  đã chịu nhiều sách nhiễu, quản chế và tù đày  ngay trên quê hương mình. Nhưng với tinh thần Vô Úy không khiếp sợ, Ngài đã không ngừng tranh đấu cho sự Tự do Tôn giáo, Nhân quyền và quyền phục hoạt của GHPGVNTN.      

              “Các Pháp hữu vi đều là Vô Thường: Sanh Trụ Hoại Diệt không ngừng”. Đó là lời của Chư Phật  đã nhắn nhũ. Có sanh ắt có Tử, Tuy vậy, có nhiều cách chết khác nhau, có người chết trong sự an bình tự tại, nhưng cũng có những cái chết trong sự đau đớn khổ sở. Có người sinh ra đời để thành tựu những thành qủa lớn lao cống hiến cho nhân  loại, nhưng cũng có những người sanh ra chỉ để gây sự đau khổ phiền não cho mình và cho người.

               Một vị Thiền sư Nhật Bản Eido Tai Shimano có nói rằng: Cảm giác về sự hiện hữu không là gì khác hơn là mức độ Nghiệp lực của người đó. Có Nghiệp lực mạnh, dù nó tốt hay xấu, thì sự dạy dỗ hay ảnh hưởng của người đó vẫn còn tiếp diễn. Một người tuy đã mất nhưng ta vẫn thường cảm giác người đó vẫn còn đâu đây, còn nghiệp lực yếu thì họ sẽ dễ dàng bị quên lãng.

               Ngài đã ra đi vĩnh viễn, công cuộc phục hoạt của Giáo Hội vẫn chưa hoàn thành. Sự tranh đấu vẫn còn nhiều cam go. Nghiệp lực của Ngài vẫn còn mạnh và tiếp diễn thì Ngài là một biểu tượng cao siêu, dũng mãnh và sáng ngời, là ngọn hải đăng của  chư Tôn Đức Tăng Ni, đồng hương, Phật tử trong và ngoài nước  nương theo  trên con đường tranh đấu cho Tự Do Tôn Giáo, Nhân quyền và sự Phục hoạt  của GHPGVNTN.

               Nhân Đại Lễ Tiểu Tường của Đức Đệ Tứ Tăng Thống. Con xin  thành tâm ngưỡng vọng về Ngài đãnh lễ và cảm niệm thâm ân một Bâc Danh Tăng trọn đời Vì Đạo, Vì Dân Tộc .

“…. Thầy một lần nhắm mắt là qua hết một đời. Chúng con buồn quay quắt…ngăn ngấn lệ đầy vơi… ngăn ngấn lệ đầy vơi…

Kính lạy Giác linh Thầy… kính lạy Giác linh Thầy…”

 

Hành Hương Ấn Độ: một hành trình tâm linh

                                                                                                                             Mai Đào

India  -  Cộng Hòa Ấn Độ - là một nước nằm về phía Nam của Châu Á. Có diện tích khoảng 3,287,240 Km2, rộng lớn đứng hàng thứ 7 trên thế giới, gồm 28 tỉnh bang họp lại. Phía cực Nam ngâm mình trong Ấn Độ Dương, Bắc giáp với Trung Hoa, Nepal, Bhutan, cực Bắc gối đầu trên dãy Hy Mã Lạp Sơn. Đông giápThái Lan, Miến Điện v. v. Tây giáp Pakistan. Dân số ước chừng (1tỷ 1) 1,198,003,000  đứng hàng thứ 2.  Vào đầu thế kỷ thứ 18 Ấn Độ bị đô hộ bởi người Anh nhưng vào giữa thế kỷ thứ 19 năm 1947 đã dành lại được độc lập. Tượng đầu sư vương biểu tượng sư Vô Úy của Chánh Pháp được tạo dựng dưới thời vua Asoka (297 TCN) được làm biểu tượng quốc huy của nước Cộng hòa Ấn Độ.

 Ấn Độ là một đại lục rộng lớn có cả 3 thứ thời tiết hàn đới, ôn đới và nhiệt đới. Khu vực hành hương của phái đoàn, nằm trong châu thổ sông Hằng, thời gian dễ chịu nhất là khoảng giữa tháng 10 cho đến tháng 3, khí hậu mát mẻ như mùa thu của nước Mỹ.  Vì vậy khách hành hương Phật Giáo thường chọn thời gian này để sang Ấn Độ.

Là những người con Phật, không một ai trong chúng ta mà không mong ước một lần được về thăm quê hương của đấng Từ Phụ, để chiêm bái những di tích lịch sử liên quan đến cuộc đời của Ngài và đến để nhận biết rằng Đức Phật đã thực sự đản sanh giữa cõi đời này như một con người, từ bỏ cung vàng điện ngọc, sống cuộc đời khất sĩ,  do sự phấn đấu phi thường đã diệt trừ được Tam chướng, đoạn tận khổ đau, phiền não, đạt được trí tuệ siêu việt, chứng đắc được qủa vị Giải thóat Giác Ngộ của Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, mang lại sự an lạc cho chư Thiên và loài người. Ngày hôm nay chúng ta đã thừa hưởng được một gia tài vô giá của vi diệu Chánh Pháp.  

Khóa tu học mùa Đông năm nay tại chùa Pháp Luân, được tổ chức là Hành hương Ấn Độ 15 ngày.  Trưởng phái đoàn, Thượng tọa Thích Giác Đẳng – Chánh Đại diện miền Thiện Luật , phối hợp với Sư cô Liễu Pháp tại Ấn Độ – liên lạc công ty du lịch để lo mọi dịch vụ như ăn, ở, di chuyển  cho mọi người. Đây là một chuyến hành hương đặc biệt được dự trù có sự tham dự của Đại lão Hòa thượng thượng Hộ hạ Giác - Phó Tăng Thống GHPGVNTN, từ quyển cẩm nang hành hương cũng như nơi ăn chốn ở, phương tiện di chuyển cho phái đoàn cũng được TT Giác Đẳng và Sư Cô Liễu Pháp chuẩn bị chu đáo và hoạch định chương trình thật kỹ càng và số người tham dự cũng thật là giới hạn. Thật là nhiều phước duyên cho những người được tham dự chuyến đi này. Nhưng rất tiếc gần ngày khởi hành, Đại Lão Hoà Thượng Thích Hộ Giác Phó Tăng Thống GHPGVNTN vì sức khỏe không cho phép nên đã không cùng lên đường được.

Hành hương là một hành trình tâm linh, là một kinh nghiệm cá nhân mang lại sự lợi lạc cho đời sống nội tâm. Theo chân những người hành hưong đến xứ Phật, phái đoàn gồm 26 người đến từ các ngã đường: 7 người từ California: Hoà Thượng Thích Chơn Trí, Sư Bà Thích Nữ Nguyên Thanh, Sư Cô Thích NữTịnh Nhơn, đạo hữu Minh Đăng, Diệu Đức, Lê Trọng Bích, Lương Thái Bá. 12 người  từ Texas: Thượng tọa Thích Giác Đẳng, đạo hữu Ngô ngọc Lý, Trần thị Nghi, Hương Hùynh, Sandy Trần, Hải Nguyễn, Tôn nữ Thủy Tiên, Mai Đào và 4 chị em họ Nguyễn: Nguyệt, Điệp, Huyền, Thu Trang. 2 người từ Canada:  Đạo hữu Lưu Cẩm Nhung và Lưu Quỳnh Hoa. 4 người từ Úc Đại Lợi: Sư cô Thích Nữ Bảo Trường, Thích nữ Tịnh Ánh, Thích nữ Hữu Tịnh và đạo hữu Hoàng Oanh. Vào lúc 9:20 tối ngày 4 tháng 11 năm 2009, tất cả đã gặp nhau tại New Delhi, Ấn Độ, tại nơi đây Sư cô Thích nữ Liễu Pháp đã có mặt  để chào đón phái đoàn và đưa mọi người về khách sạn TJS Grand để nghỉ ngơi.

Phái đoàn đã ở tại New Delhi 2 ngày để nghi ngơi, mua sắm vài thứ cần thiết, chiêm bái Ashok Sila nơi Đức Phật giảng kinh Tứ Niệm Xứ, thăm viếng Lotus Temple, Khải hoàn môn India Gate, Raj Ghat nơi hỏa tang Mahatma Gandhi và ngôi đền vĩ đại Akshardham. Dù rằng có những người lần đầu tiên gặp nhau nhưng chỉ cần sau 2 ngày cùng đi chung, ăn chung và sinh hoạt chung, mọi người đã cảm thấy thoải mái, cởi mở và thân thiện.

Sang ngày thứ 4, mọi người được thông báo là 5 giờ sáng thức dậy, 6 giờ điểm tâm và 7 giờ khởi hành. Có lẻ vì chưa quen với sự sai biệt giờ giấc hay vì quá trông ngóng chờ đợi cho chuyến đi mà khoảng 2 giờ sáng mọi người đã thức dậy, đặc biệt là Hòa thượng Chơn Trí đi gõ cửa từng phòng nhắc nhở mọi người biết cách pha nước nóng để tắm cũng như mời bà con qua phòng uống trà và Cà phê.  Phòng của Hòa thượng và TT Giác Đẳng được xem là “quán trà bên đường” của phái đoàn mỗi buổi sáng.

  Sau giờ điểm tâm, 7 giờ sáng xe Bus của công ty du lịch đến với đầy đủ tiện nghi và máy điều hòa không khí, mới và sạch sẽ, trong vòng 12 ngày tới chiếc xe nầy  như căn nhà tạm của phái đoàn trong suốt cuộc hành trình. Ngoài trừ những lúc xuống chiêm bái thánh địa hay vào hotel để nghĩ ngơi, phần còn lại mọi sinh hoạt đều ở trên xe Bus nầy.

 Khi thành phố vẫn còn nằm yên tĩnh trong màng sương mờ và lạnh của buổi sáng, phái đoàn lặng lẽ rời Delhi đi Lucknow, bắt đầu cuộc hành trình hành hương chiêm bái. Đây là trạm chuyển tiếp, lộ trình này khoảng 12 tiếng, đoạn đường dài nhất của chuyến đi. Tuyến đường này thường các phái đoàn dùng phương tiện máy bay hay xe lửa để đi, tuy tiện lợi về sự nhanh chóng,  nhưng cũng có nhiều bất tiện về sự chờ đợi và chen lấn vì vậy dùng xe Bus trong tuyến đưòng này cũng là một thí nghiệm.

 Xe chạy chậm chậm rời thành phố, mọi người có cơ hội quan sát sự sinh hoạt của  thành phố vào sáng sớm. Delhi là thủ phủ của Nước Cộng hòa Ấn Độ, lớn đứng hàng thứ 2 sau Bombay.  Phải nói rằng Delhi đang trở mình với nhiều thay đổi về hạ tầng cơ sở: đường xá đang được xây cất và sửa chửa nhiều, thành phố nhìn cũng có vẻ sạch sẽ hơn, mặc dù đâu đó vẫn còn những đóng rác ngổn ngang, hình như người Ấn Độ không quan tâm nhiều đến vấn đề vệ sinh cá nhân cũng như cộng cộng, vứt rác và tiểu tiện ngoài đường vẫn còn một cách thoải mái, đường xá thì vẫn còn bụi bặm nhiều đến nổi những lá cây không còn màu xanh nữa mà là màu vàng của đất cát, cao ốc đang mọc lên rất nhiều khắp nơi.

Xe vừa rời xa khỏi thành phố, Thượng tọa truởng phái đoàn đã hướng dẫn mọi người tụng kinh Tam Bảo Nam Tông và Sư Bà Nguyên Thanh hướng dẫn theo kinh Bắc Tông để cầu Tam Bảo và chư Thiên gia hộ cho mọi người trong chuyến đi được an lạc và bình yên. Sau đó là đạo từ của Hòa Thượng Chơn Trí, Ngài đã bày tỏ niềm hoan hỷ chúng ta có đầy đủ duyên lành để cùng làm thiện hữu đồng hành, Ngài cũng đã khuyến tấn, chia xẻ những kinh nghiêm để làm sao cho mọi người trong chuyền đi được an lạc. Tiếp theo là chia xẻ của Sư Bà Nguyên Thanh, và sau đó lời nhắn nhủ, dặn dò của Sư Cô Liễu Pháp- một người đã đi du học 10 năm tại đây.  Thượng tọa Giác Đẳng đã chia xẻ nhiều về địa dư và lịch sử của Ấn Độ cũng như thành phố Delhi và Lucknow nơi phái đoàn sắp đến. Lucknow là thủ phủ của tỉnh bang Uttar Pradesh. Một trung tâm văn hóa quan trọng của vùng Đông Bắc Ấn.

Sau vài giờ nghỉ ngơi,Thượng tọa Giác Đẳng hướng dẫn mọi người tụng kinh và học tiếng Pali, thiền tập.  Mọi người chia xẻ những mẫu chuyện vui, ngâm thơ, ca hát, tất cả những sinh hoạt này đã làm cho mọi người không cảm thấy mõi mệt và buồn nản trên chặng đường dài nhất nầy. Để tranh thủ thời gian, phái đoàn đã dùng cơm trưa trên xe Bus bằng cơm hộp do một nhà hàng gần đó cung cấp. Trong mấy ngày qua mọi người đã có dịp thưởng thức món cà ri Ấn Độ với bánh Nan, một món ăn đặc thù nhất tại đây.  Trên 80/100 dân Ấn ăn chay chỉ có rau và cheese. Thịt thì chỉ có gà, trừu hay dê mà thôi, không có thịt bò và heo.

 Trên đường đi, ông Tour Guide cũng đã cố gắng tìm chổ có những nhà vệ sinh công cộng sạch sẽ cho mọi người xử dụng, tuy nhiên có đôi lúc cần thiết không thể nào tránh khỏi việc xử dụng nhà “vệ sinh ngàn sao” nơi đồng ruộng, lần đầu tiên mọi người còn bở ngỡ do dự, nhưng sau vài lần thì ai cũng thích cách này, vì sạch sẽ, gió mát và có thể ngắm hương hoa đồng nội.

 Khoảng 7 giờ tối, phái đoàn đến Lucknow và nghỉ đêm tại Hotel Park. Đây là một khách sạn khá khang trang và sạch sẽ, đầy đủ tiện nghi.  Mọi người đều có một giấc ngủ thật thoải mái sau một ngày dài trên xe.

Sang ngày thứ 5, sau giờ điểm tâm, phái đoàn rời Locknow sớm để đi Varanasi (Ba La Nại), lộ trình dài 6 tiếng. Như thường lệ, xe vừa rời thành phố Thượng tọa trưởng phái đoàn hướng dẫn mọi người tụng kinh Tam Bảo và Kinh Chuyển Pháp Luân và giảng ý nghĩa về bài kinh này: đây là bài kinh khởi vận bánh xe Pháp nói về Trung Đạo và Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) được Đức Thế Tôn giảng trọn vẹn tại đây.Niệm Từ Vô Lượng Tâm.

 Sau khi đức Thế Tôn giác ngộ dưới cội cây bồ đề, với tuệ nhãn thuần tịnh ngài quán sát thấy năm người bạn đạo ngày xưa vẫn còn ở Ba La Nại. Hướng về Ba La Nại, Ngài ra đi. Gặp lại họ, lần đầu tiên bánh xe pháp được luân chuyển, Ngài cất tiếng giảng bài kinh Chuyển Pháp Luân về con đường Trung Đạo, pháp âm vừa dứt, A Nhã Kiều Trần Như đắc qủa A La Hán, Ngài nói về Tứ Diệu Đế bốn người còn lại đắc qủa A La Hán, qủa vị cao nhất, có đầy đủ phước đức trí tuệ, hết phiền não sanh tử luân hồi.

Thượng tọa cũng nói thêm về bối cảnh và địa dư của Varanasi dưới thời Đức Phật. Varanasi là một thành phố lớn của tỉnh bang Uttar Pradesh, thuộc miền trung bắc Ấn Độ có dân số trên 1 triệu người, một thành phố tồn tại liên tục trên 4 ngàn năm qua với dòng sông Hằng huyền thoại và thấn bí, những đền đài Ấn giáo nguy nga và đồ sộ, đối với người Ấn Độ đây là nơi thiêng liêng và ân phước nếu được về đây vào những ngày cuối cuộc đời.

 Tới Varanasi (Ba La Nại) sau gìờ cơm trưa, phái đoàn đi chiêm bái vườn Lộc giả tại Sarnath nơi Đức Phật Chuyển Pháp Luân, một trong 4 Đại Thánh Tích. Chiêm bái, tụng kinh, và thiền định. Thăm viếng ngôi tịnh xá Mùlagandhakuti đầu tiên của thời kỳ chấn hưng PG hiện đại (Tịnh xá Hương Thất), nơi có bức tượng Phật Chuyển Pháp Luân đẹp tuyệt vời và dưới bảo tọa có một viên xá lợi của Đức Phật được tôn trí tại đây, mỗi năm họ chỉ mang ra một lần để mọi người chiêm bái và đảnh lễ.  Bên cạnh đó, dưới cội cây Bồ đề, có tượng Đức Phật đang giảng pháp và năm anh em Kiều Trần Như ngồi chung quanh.

Chung quanh cây Bồ Đề, có 28 tượng Phật tượng trưng cho 28 vị Phật trong quá khứ, có những bài Kinh Chuyển Pháp Luân được khắc 12 thứ tiếng trên miếng đá quý, trong đó cũng có bài kinh bằng tiếng Việt. Thật hoan hỷ thay! Sadhu!

Thăm bảo tàng viện nơi còn đang cất giữ trụ đá đầu sư vương chánh pháp vô úy của vua Asoka, ngày nay được làm quốc huy của Ấn Độ.

Đại đức Thích Tường Quang sau một thời gian dài du học ở Ấn Độ đã phát tâm ở lại và phát nguyện xây cất một ngôi chùa Việt Nam tại Ba la Nại với tên là chùa Đại Lộc, dự định sẽ xây xong trong vòng 3 năm tới, ngoài tôn tượng Đức Bổn Sư Thích ca Mâu Ni Phật, còn có tôn tượng của Ngài Shivali (biểu tượng đại lộc). Đất đã mua xong, hiện nay bức tường xung quanh chùa cũng đã xây xong, chương trình vào ngày 6 tháng 12 năm 2009  có buổi lễ đặt viên đá đầu tiên. Phái đoàn đã đến thăm viếng và cúng duờng. Tại Bồ Đề Đạo Tràng (Đức Phật Thành Đạo), Lumbini (Lâm Tỳ Ni - Đản Sanh), Kushinagar  (Câu Thi Na -Nhập Niết Bàn) đều đã có những ngôi chùa Việt Nam, nhưng nơi Varanasi- Balanại (Chuyển Pháp Luân) chưa có, vì vậy đây là công trình thật đáng hoan hỷ. Sadhu! Lành thay!

 Phái đoàn về Hotel HHI dùng cơm tối và ngủ đêm tại đây.

Sang ngày thứ 6, 5 gìờ sáng phái đoàn đi thuyền trên sông Hằng (Ganga) thưởng ngoạn mặt trời mọc và nhìn ngắm sinh hoạt tôn giáo tại bờ sông này. Sông Hằng thường được nhắc nhở trong kinh điển Phật Giáo, Đức Phật so sánh cát sông Hằng để chỉ những số nhiều không thể đếm được như hằng hà sa số thế giới nghĩa là nhiều như cát sông Hằng v.v. Sông Hằng dài trên 5575 km từ Bắc xuống Nam, phía Tây ngạn có nhiều đền thờ và Ghat, nơi mà người dân Ấn thường xuống tắm, cầu nguyện mỗi buổi sáng, cạnh đó có những lò thiêu người chết, trên sàng người chết được đặt nằm quấn sơ tấm vải và ở dưới chất cũi để đốt, nếu có tiền thì xác được đốt lâu hơn,  bằng không thì vừa xém lửa một tý thì xác chết được vức xuống sông, hy vọng nước sông Hằng linh thiêng sẽ tẩy rửa tội lỗi của họ.  Phía Đông ngạn được để trống, vì vậy đi thuyền trên sông Hằng vào sáng sớm ngắm mặt trời đỏ rực từ từ nhô lên khỏi mặt nước thật đẹp.

Rời sông Hằng, phái đoàn trở về Hotel dùng điểm tâm, và sau đó rời Varanasi đi Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng), nơi Đức Thế Tôn đã Thành Đạo, đây là đại thánh tích quan trọng nhất trong chuyến hành hương

Trên đường đi, sau thời kinh Tam Bảo, Thượng tọa hướng dẫn tụng kinh và giảng về Tiểu sử Đức Phật, về phương pháp niệm Phật. Đến khoảng trưa phái đoàn đã đến Hotel Lotus Nikko, dùng trưa, nghĩ ngơi, buổi chiều phái đoàn ra chiêm bái Đại tháp Mahabodhi và cây đại thọ Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng.

Đây là nơi ánh sáng trí tuệ của Chư Phật bắt đầu bừng dậy và ánh hào quang đã tỏa sáng đi khắp muôn phương. Hằng năm, khoảng tháng 10 cho đến tháng 3, hàng ngàn Phật tử khắp nơi về đây để tụng kinh, lạy Phật, cầu nguyện, thiền định với tâm thành. Từ 4 giờ sáng cho đến 9 giờ tối, vang vang với tiếng tụng kinh, tiếng niệm Phật, người thì đi kinh hành, người thì tam bộ nhất bái, người thi ngũ thể lạy Phật, người thì im lặng thiền định, người thì với tâm thành đang dâng hương hoa và y cúng dường Phật, nhìn những hình ảnh đẹp và cao thượng đó ở một nơi tôn nghiêm khiến lòng người thật hoan hỷ và xúc động lạ thường.  Mỗi người, mỗi nhóm đều có cách tu tập của riêng mình mà không làm phiền hà đến những người chung quanh, không khí thật nhộn nhịp nhưng không ồn ào náo động. Khi con người có cùng chung một chí hướng nhất là về phương diện tâm linh thì dễ dàng đến gần nhau hơn không còn cảm thấy xa lạ, dù rằng họ là sắc tộc nào và đến từ phương trời nào. Có những người đến Bồ Đề Đạo Tràng tự nhiên tâm tánh biến đổi, bao nhiêu tâm thiện bỗng bừng dậy phát tâm tạo phước nhiều, có người thì phát nguyện tinh tấn tu tập hay xuất gia. Có lẻ nơi đây, nơi phát triển trí tuệ của chư Phật và cũng từ đó mỗi năm hàng ngàn người về đây tu tập, tụng kinh bái sám với tâm thành vì vậy từ trường rất mạnh nên dễ phát triển tâm linh.

 Dù rằng tôi đã về đây bao nhiêu lần, nhưng lần nào cũng vậy, vừa vượt qua những người ăn xin, những quán hàng rong bên đường để bước vào thánh địa, từng bước,  từng bước một bước xuống những bậc thang để đi vào trong đại tháp Bồ Đề, nhìn tượng Đức Bổn Sư thật đẹp với nụ cười  an lạc, từ bi và trí tuệ, tưởng chừng như  Ngài vẫn còn hiện hữu đâu đây, như lâu ngày được về thăm đấng Cha Lành, tôi đã không cầm được nước mắt với sự xúc động khôn nguôi, tôi đã cúi rạp người thành tâm đê đầu đãnh lễ dưới chân Ngài, bậc Ứng Cúng Chánh Biến Tri đáng cúng dường, với niềm  hỷ lạc  vô biên.  Bôn ba thăng trầm trong đời sống, tôi cảm thấy mình có quá nhiều phước lành để được về đây, dưới bóng mát của tàng cây đại thọ như đang che chở, an ủi vỗ về, tôi bật lên tiếng khóc nức nở.  “Bạch Đức Thế Tôn, Con -  Một người đã tạo quá nhiều ác nghiệp trong đời sống đều do tham, sân,  si và ái dục gây ra, con nay đều thành tâm sám hối. Con hèn hạ không nơi nương gởi, chỉ nơi Ngài con đã quy y, xin nhiếp phục tâm con với Ngài làm một. Xin nguyện cho con từ nay cho đến ngày đạt được quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác, cho dù kiếp sống nào con sinh ra cũng được làm đệ tử Phật, được gặp Chánh Pháp, được gặp bậc Thiện Trí, được sống trong cảnh thanh tịnh trang nghiêm như thế này, và cuối cùng đạt được qủa vị Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

Phật vẫn chờ con cuối đường đấy chứ                                                                        

Con về sau, hoa có nở Liên Đài.                                                                                    

Con thèm lắm một nụ cười giản dị.                                                                             

 Đấng Cha lành nào phải của riêng ai               (MĐTTA)

Phái đoàn đã ở đây ba ngày, tụng kinh, niệm Phật, kinh hành và thiền định. Đồng thời Thượng tọa trưởng phái đoàn cũng đã hướng dẫn mọi người đi thăm viếng và giảng giải những sự kiện liên quan đến Đức Phật ở chung quanh Đại Tháp. Thăm Khổ Hạnh Lâm, thăm và cúng dường những ngôi chùa quốc tế tại đây, thăm làng của người tín nữ đầu tiên Sujata. Bên cạnh đó mọi người cũng có thời gian sinh hoạt tu tập cho riêng mình.

Phải nói rằng năm nay phái đoàn hành hương này đã phát tâm hùn phước vào trong qũy “phước thiện” của đoàn rất mạnh, ngoài việc hùn phước cúng dường tiền để xây cất chùa Đại Lộc và tượng Đức Bổn Sư ở Varanasi, phái đoàn còn làm rất nhiều phước sự khác tại Bồ Đề Đạo Tràng như: đốt đèn cúng dường 3 đêm và lễ dâng Y lên Đức Phât,  cúng dường Trai Tăng cho 108 vị chư Tăng đại diện từ các ngôi chùa quốc tế được mời đến dự tại khách sạn Mahayana, cúng dường các Tăng Ni Việt Nam đang du học tại Ấn Độ, chẩn bần cho 300 gia đình nghèo tại một ngôi làng gần đó.Và bất cứ nơi nào phái đoàn đến viếng thăm cũng đã cúng dường rất mạnh mẽ.

Riêng bản thân chúng tôi, có duyên được ở chung phòng với một người bạn đạo tuy còn trẻ nhưng rất nhiều đạo tâm, cùng một vài người bạn khác, chúng tôi đã cùng nhau làm thêm những phước sự khác:  cúng dường tiền để đào tổng cộng 8 cái giếng ở những nơi đang có nhu cầu, cúng dường tịnh tài cho khoảng 300 vị chư Tăng đang tinh tấn tu tập vào sáng sớm tại thánh địa, nhân mùa lạnh, phát 200 cái mềm và tiền cho những người đang ngủ ngoài đường và các trẻ em mồ côi.

 

Sang ngày thứ 9, sau giờ diểm tâm, phái đoàn rời Bodh Gaya đi Rajgir - Vương Xá Thành, thủ đô của xứ Ma Kiệt Đà. Nơi Đức Phật đã ở 7 năm đầu tại đây. Trên đường đi, Thượng tọa trưởng phái đoàn đã hướng dẫn học và tụng Kinh Lễ Bái Lục Phương (Đức Thế Tôn nhân thấy thanh niên Sin Ga La lễ bái sáu phương, Ngài giảng dạy cách thức lễ bái theo đạo lý thánh hiền: Đông, Nam, Tây, Bắc, Trên, Dưới như nghiã vụ giữa Cha Mẹ, Thầy Trò, Vợ Chồng, Bạn Bè, Tăng Tục, chủ Tớ). Và Thượng tọa cũng giảng về những đệ tử đầu tiên của Đức Phật

 

Sau giờ ăn trưa, phái đoàn lên núi Linh Thứu thăm hương thất do vua Bình Sa Vương xây cất để Đức Phật nghỉ ngơi, ngày nay vẫn còn lại nền đất, phái đoàn đã tụng thời kinh tại đây. Núi Linh Thứu ( Kỳ Xà Quật – Mũi đá con Kênh Kênh) có nhiều sự kiện liên quan đến cuôc đời Đức Phật. Theo Phật Giáo Bắc Tông đây là nơi Đức Phật đã giảng kinh Pháp Hoa, người Nhật Bản phái Nhật Liên Tông đã xây một Đại Tháp Shanti (Đại tháp Hòa Bình) tại đây. Cũng chính trên ngọn núi Linh Thứu , một buổi sáng Đức Phật nhìn xuống dưới thấy những thuở ruộng lúa, Ngài đã nói với Tôn giả Anan Y của Chư Tăng sau này  may giống như những thuở ruộng và gọi là Phước Điền Y.

Bên cạnh là hang động của Ngài Anan, và bên dưới là hai hang động nơi Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên thường trú ngụ.

 Thăm chùa Trúc Lâm- tu viện đầu tiên của Phật Giáo.   

 

Đi Nalanda, quê hương của nhị vị thượng thủ thinh văn tôn giả Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên. Phái đoàn đi thăm Trung tâm Học Phật Nalanda, viện đại học PG danh tiếng suốt 12 thế kỷ. Do sự giảng dạy của Thượng tọa Giác Đẳng được biết rằng sự ra đời của đại học Nalanda cũng là thời hưng khởi của Phật Giáo Đại Thừa thời bấy giờ, có 6 vị luận sư quan trọng và nổi tiếng là Ngài Long Thọ, Ngài Thế Thân, Ngài Thánh Thiên, Ngài Trần Na, Ngài Pháp Xứng, Ngài Vô Trước đã từng giảng dạy hay làm viện trưởng của đại học này, và bên Trung Hoa có Ngài Pháp Hiển, Ngài Huyền Quang, Ngài Nghĩa Tịnh cũng đã lưu học và thành danh tại đây.Tại Trung tâm Nalanda đã mục kích ra đời hai tác phẩm quan trọng của Phật Giáo Đại Thừa về sau này: Bộ Đại Trí Độ (Đại Bát Nhã) và Bộ Trung Quán của ngài Long Thọ. Tại đây cũng có Đại tháp của Ngài Xá Lợi Phất, hiện nay vẫn còn. Khi đạo Hồi vào đã tàn phá và thiêu đốt đại học này ròng rã suốt 3 tháng.

Rời Rajgir đi Patna (Hoa Thị Thành) xưa kia là kinh đô của đại đế Asoka (A Dục).Đây cũng là nơi xảy ra cuộc Kết Tập Tam Tạng lần thứ III.

Phái đoàn nghỉ đêm tại khách sạn Chanakya.

Sang ngày thứ 10, sau giờ điểm tâm phái đoàn rời Patna đi Vesali (Tỳ Xá Ly). Trên đường đi học và tụng Kinh Châu Báu (nhân thành Vesali bị bệnh dịch lan tràn, phi nhân quấy nhiễu và đói khát, Đức Phật dạy cho tôn giả Anan đi 3 vòng thành Vesali tụng bài Kinh Châu Báu: niệm Phật lực và Ân đức của Tam Bảo, mọi tai ương đều tan biến)   Kinh Đại Niết Bàn (Đức Phật đã để lại di giáo cuối cùng: Các pháp hữu vi đều là vô thường, các con hãy tinh tấn tu tập), niệm Bi Vô Lượng Tâm.

 Chiêm bái di tích Vesali – nơi thành lập giáo đoàn Tỳ kheo Ni, thăm chùa Kiều Đàm Di - một ngôi chùa Việt Nam do Chư Tỳ kheo Ni đang đảm trách. Phái đoàn đã được dùng trưa tại đây với bún rêu chay do qúy sư cô khoán đãi, sau vài ngày ăn thức ăn Ấn Độ lai Tàu, hôm nay được thưởng thức món ăn thuần túy VN, mọi người đã thưởng thức một cách thật tình, không e dè.

Sau đó phái đoàn trực chỉ đi Kushinaga (Câu Thi Na) nơi Đức Phật viên tịch Niết Bàn.

Tối ngủ tại khách sạn Nikko Lotus.

Sang ngày thứ 11. Khi màn sương vẫn còn bao phủ, cảnh tượng thật yên tĩnh và trầm lặng, không khí u buồn trầm mặc.sau giờ điểm tâm phái đoàn đi thăm Đại Thánh tích Niết Bàn. Nơi đây có một đại tháp tròn đánh dấu nơi Đức Phật đã nằm dưới hai tàng cây Long Thọ an nhiên thị tịch. Và trước tháp là một ngôi nhà có pho tượng Phật Nhập Niết Bàn được an trú bên trong. Phái đoàn đã tụng thời kinh, đi nhiễu Phật 3 vòng, dâng y cúng dường. Tại Bồ Đề Đạo Tràng nơi Đức Phật thành đạo vui và nhộp nhịp bao nhiêu thì nơi đây không khí lại u buồn bấy nhiêu, làm cho người khách hành hương không khỏi cảm thấy bùi ngùi xúc động, có nhiều người đã không cầm được nước mắt, bậc lên tiếng khóc nức nở. Với lòng bùi ngùi nuối tiếc, phái đoàn rời đại thánh tích đi chiêm bái tháp Ramabha đánh dấu nơi tà tỳ nhục thân của Đức Phật. Có 6 loại Xá Lợi khác nhau chia ra làm 2 phần: Tinh thể gồm hột mè, hôt cải và hột thóc. Và 3 loại khác là xương răng (gồm 4 răng nhọn) xương trán và xương vai.Xá Lợi đã được phân chia đồng đếu 8 phần cho các nước thời bấy giờ.   

Ấn Độ đã thay đổi rất nhiều, đường xá đã được sửa chửa và mở rộng lớn và tốt hơn xưa nhiều, đã có xa lộ chia làm hai chiều xe chạy và chính giữa họ đã trồng những cụm hoa giấy nhiều màu sắc thật đẹp, tuy có những đoạn vẫn còn đang sửa chửa nên xe chạy vẫn còn giồng rất nhiều. Chúng ta, những người hành hương, về đây theo dấu chân người xưa để tìm những di tích của Đấng Cha Lành, nhưng khi ngồi trên xe lâu một tý, đường xe chạy giồng một tý, ăn ở cực một tý thì chúng ta đã cảm thấy mỏi mệt, lo âu, than vản. Nhớ lại cách đây hơn 2,500 năm, Đức Phật từ một vị hoàng tử sống trong cung vàng điện ngọc, kẻ hầu người hạ, Ngài đã từ bỏ tất cả để sống một cuôc đời khất sĩ, Ngài cùng Chư Tăng, đầu trần chân đất trên những con đường mòn sỏi đá, bụi bặm với Tam Y và Bình Bát trên tay, Ngài đã lên đường đi khắp nơi để hóa độ chúng sanh hữu duyên. Ngay cả khi Ngài đã 80 tuổi, với cơn bệnh tiêu chảy, với lòng bi mẫn Ngài vẫn đi, bình thản và hùng dũng như voi chúa, từng bước, từng bước một khoan thai Ngài đi về hướng Kushinaga.Khi mệt Ngài nằm nghĩ trên phiến đá. Mặc dầu Ngài có thần thông, và có biết bao nhiêu vua chúa và những người giàu sang phú quý có thể cung cấp đủ thứ phương tiện cho Ngài, Ngài đã từ chối tất cả. Nhớ về những điều này mà mỗi lần về đây, đi theo dấu chân Người, tôi lại càng thấy thương kính Đức Thế Tôn rất nhiều. Tôi thầm niệm Ân Lành của Tam Bảo, trong lòng hỷ lạc vô biên.

Tại Kushinaga có một ngôi chùa Thái Lan, nơi tôn trí Xá Lợi Phật, phái đoàn đã dâng hương, hoa, đèn và tụng kinh thiết lễ cúng dường thật trang nghiêm tại đây, một duyên lành, do sự sắp xếp của Thượng tọa Giác Đẳng và sư cô Liễu Pháp, vị trụ trì ngôi chùa này đã cho mọi người được chiêm bái và đãnh lễ Xá Lợi Phật. sadhu!

 Thăm và cúng dường chùa Linh Sơn của Sư Cô Trí Thuận đang trụ trì.

Sau đó lên đường đi Nepal để đến Lumbini (Lâm Tỳ Ni). Tu và học về sự ra đời của một vị Phật Toàn Giác, kinh Quán niệm (Tự tánh, các Pháp, các Hành đều là vô thường, khổ và vô ngã)  học và thực tập Pháp niệm hơi thở.

Tối ngủ tại khách sạn Nirvana.

Sang ngày thứ 12, sau giờ điểm tâm, phái đoàn đi Lumbini – nơi Đức Phât Đản Sanh- đại thánh tích sau cùng, nằm trong ranh giới của Nepal sát ranh giới Ấn Độ. Trên đường đi phái đoàn đã ghé thăm Kaplavatthu (Ca Tỳ La Vệ) nơi kinh đô của dòng họ Thích Ca, một thời với cung điện nguy nga tráng lệ, nơi Thái Tử Tất Đạt Đa dạo chơi bốn cửa thành, nay chỉ còn là những nền nhà đổ nát, quang cảnh thật hoang vu, khiến lòng người không khỏi bồi hồi thương cảm. Tôi liên tưởng đến hai câu thơ của bà Huyện Thanh Quan:

 

          Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo.                                                                                     

          Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

 

   Thật đúng là vô thường!

Tại đại thánh điạ Đản Sanh, vẫn còn trụ đá của vua Asoka đã đánh dấu với hàng chữ: “Sau hai mươi năm lên ngôi, vua Priyadasi, người được chư Thiên yêu mến, đã thân hành viếng thăm và cúng dường cũng như lễ bái nơi đây, bởi vì Đức Phật, thánh nhân dòng họ Thích, đã được sanh ra nơi đây.” Phái đoàn đã tụng một thời kinh tại đây.Vào bên trong đền chiêm bái nơi đánh dấu bước chân chào đời của Đức Phật. Thăm và cúng dường mềm và tiền cho viện mồ côi Linh Sơn của Thượng tọa Thích Thanh Quang.

Rời Lumbini đi Sravasti, tu và học Kinh Cát Tường, về quyến thuộc của Đức Phật và dòng lịch sử Phật Giáo.Tối ngủ tại khách sạn Nikko Lotus.

Sang ngày thứ 13, sau giờ điểm tâm, phái đoàn đi Savatthi (Xá Vệ) đi thăm di tích Kỳ Viên Tịnh Xá, nơi mà ông Cấp Cô Độc đã rải vàng mua đất để cúng dường Đức Phật lập tịnh xá.  Theo sự giảng giải của Thượng tọa Giác Đẳng thì đây là nơi Đức Phật đã an cư 19 lần trong 45 năm hóa đạo của Ngài, đây cũng là nơi mà ĐứcThế Tôn ban hành giới luật và cũng tại nơi đậy phật Giáo đã có một mô hình rõ rệt: Đức Phật có 2 vị Thượng thủ: Ngài Xá Lợi Phất lo về Pháp Học và Ngài Mục Kiền Liên lo về Pháp Hành cho chư Tỳ Kheo và có hai vị Đại thí chủ là trưởng giả Cấp Cô Độc và Bà đại thí chủ Visakha. Theo Tam Tạng kinh điển Pali có 871 bài kệ  thì có 844 bài đã được giảng giải tại Kỳ Viên Tịnh Xá nầy.

Đứng trên nền đất nơi hương thất của Đức Phật, nơi mà hằng ngày Ngài Anan thường quét dọn, lấy nước ở cái giếng bên cạnh, nay vẫn còn, cho vào lu để Đức Phật dùng rửa chân, mỗi đêm Ngài  thường tay cầm đuốc, tay cầm gậy đi quanh thất 3 vòng để bày tỏ lòng tôn kính Đức Phật và để xem xét mọi thứ trước khi đi ngủ, dù rằng sau ngày Đức Phật nhập diệt, Ngài cũng đã trở về đây và làm những công việc như vậy như khi Đức Phật vẫn còn tại thế. Dù rằng tôi đã nhiều lần đến đây, nhưng lần nào cũng vậy, nơi đây vẫn làm tôi xúc động khôn nguôi, hình ảnh Đức Thế Tôn vẫn còn đâu đây, hình ảnh ngài Anan cặm cụi quét dọn vẫn còn đâu đây, tôi cúi rạp người đê đầu đảnh lễ dưới chân Ngài với niềm hỷ lạc vô biên.

Phái đoàn đã đi 3 vòng quanh hương thất và niệm danh hiệu của Đức Bổn Sư.Tới cây Bồ Đề Anan tụng thời kinh và đi nhiễu quanh 3 vòng. Đây là cây Bồ Đề được Đức Phật cho phép Ngài Anan trồng như biểu tượng hình ảnh của Ngài, để khách thập phương khi đến thăm và đảnh lễ, khi Ngài đi vắng. Thăm tháp Ngài Vô Não, thăm nhà trưởng giả Cấp Cô Độc và Thiền viện quốc tế Dan Maha Monkhol, do một vị nữ tu người Thái Lan đề xướng, đây là một trung tâm thiền viện được xây cất rất quy mô, đẹp và trang nhã trên một thuở đất rất rộng lớn, có trung tâm sinh hoạt riêng biệt cho Nam và Nữ, một pho tượng Phật lộ thiên cao 33 mét, hiện nay trung tâm đang xây cất một đại bảo tháp cao 110mét, đường kính cũng 110 mét, dự định sẽ hoàn tất trong vòng 2 năm. Phái đoàn đến chiêm bái và cúng dường tu viện và hùn phước trong việc xây cất Đại BảoTháp. Nhìn cách sinh hoạt và sự phát triển trung tâm mọi người đều cảm thấy hoan hỷ vô cùng. Sadhu! Lành thay!   

Rời Sravasti đi Lucknow. Trên đường đi Tu và học về Kinh Từ Bi, và về Sinh hoạt Tăng đoàn thời Đức Phật và niệm Hỷ Vô Lượng Tâm

Tối ngủ tại khách sạn Park Place.

Sang ngày thứ 14. Sau khi dùng điểm tâm xong, phái đoàn rời Lucknow đi Agra. với dòng sông Yamuna được lưu danh trong sách sử. Đây là đoạn đường dài 7 tiếng. Phần hành hương chiêm bái đã hoàn mãn. Trên đường đi đã được Thượng tọa trưởng phái đoàn giảng về Đạo Phật và sự xâm lăng của Đạo Hồi, những người gìn giữ gia tài cho chúng ta.

Trên đoạn đường nầy, mọi người sinh hoạt, ôn lại những đoạn đường đã qua, bày tỏ cảm tưởng và sinh hoạt văn nghệ rất là vui.

Mọi người đều bày tỏ niềm tri ân với Thượng tọa Giác Đẳng, đã tổ chức chuyến đi nầy và nhất là những nơi nào phái đoàn đến chiêm bái hay viếng thăm, với sự hiểu biết và trí nhớ siêu việt, Thượng tọa đã chia xẻ, giảng giải rất nhiều điều cho mọi người được hiểu rõ những nơi đến, vì càng hiểu rõ chúng ta mới cảm nhận được ân đức của Đức Phật một cách sâu sa. Tri ân sư cô Liễu Pháp đã phối hợp với công ty du lịch đã lo cho phái đoàn nơi ăn chốn ở rất là chu đáo. Tri ân Hoà thượng Chơn Trí, với tâm từ bi vô hạn Ngài đã lo lắng, chăm sóc, nhắc nhở cho mọi người làm sao cho chuyến đi được an lạc. Tri ân Su Bà Nguyên Thanh, với sự hiền lành và giản dị, Sư bà đã cho mọi người cảm thấy rất gần gũi và thân kính. Tri ân qúy Sư Cô Bảo Trường, Sư Cô Tịnh Ánh, Sư Cô Tịnh Nhơn, Sư Cô HữuTịnh, sự tham dự của quý sư cô đã trợ duyên rất nhiều cho mọi người trong chuyến đi. Cám ơn đạo hữu Minh Đăng đã hy sinh chạy lăng xăng quay phim và chụp hình lưu niệm cho đoàn. Cám ơn quý anh chi trẻ đã giúp đỡ phân phối valy và nhắc nhở giờ giấc cho mọi người. Đặc biệt cám ơn sự hiện diện của tất cả mọi người đã trợ duyên cho nhau để mọi người đều được an lạc trong chuyến đi hành hương. Sadhu! Lành thay!

 

Tối ngủ tại khách sạn Howard.

Sang ngày thứ 15. Thăm viếng kỳ quan Taj Mahal là một kỳ quan của thế giới, một công trình xây cất vĩ đại dưới thời Moghul.

Sau khi dùng cơm trưa, phái đoàn rời Agra đi Delhi. Mọi người nghỉ ngơi, mua sắm. Tối ngủ tại khách sạn Karol Bagh.

Sang ngày thứ 16. 8giờ sáng, một nhóm 19 người rời Delhi đi TháiLan, trong đó có 4 người tuy tuổi đã trên 75, nhưng cũng đã đi trọn chuyến hành hương một cách bình an. 6 người còn lại Sư cô Liễu Pháp đã hướng dẫn đi lang thang Delhi để mua sắm, và thử những món ăn đặc sản bên lề đường, nhất là được thưởng thức một bửa cơm thuần túy VN do qúy sư cô đang du hoc tại Delhi khoán đãi, mọi người đều vui cười thỏa thích, 8giờ tối ra phi trường để trở về Hoa Kỳ.

 

 

Trong cuộc đời chúng ta có rất nhiều chuyến đi: đi nghỉ mát với gia đình, với bạn bè vui chơi thỏa thích, nhưng rất ít khi chúng ta có những chuyến đi tìm về cho đời sống nội tâm.

Hành hương Ấn Độ - về nơi xứ Phật – là một hành trình Tâm Linh.

Chúng ta, những người đến Ấn Độ từ những phương trời Âu, Mỹ, nơi có đời sống vật chất thật sung túc, dư thừa, thường có lẻ khó thích ứng một môi truờng vừa dơ, vừa bụi, vừa nhiều người nghèo, bệnh tật, ăn xin như Ấn Độ, nhưng với cái nhìn bề ngoài để đánh giá về Ấn Độ thì rất dễ sai lạc. Phải nói rằng cái gì cũng có ở ấn Độ, có những nơi thật đẹp đẽ sang trong, quý phái, nhưng cũng có những nơi thật nghèo nàn, dơ dáy. Thiên đường và địa ngục đều hiện hữu ở đây. Chì là bên này và bên kia đường mà thôi. ATuLa, Ngạ qũy như cũng có mặt ở đây. Nhưng Ấn Độ đã có những thứ mà không có nơi nào trên thế giới có được: Đó là những di tích lịch sử liên quan đến cuộc đời của Đức Phật. Phật Giáo đã cho Ấn Độ những thời đại hoàng kim. Ấn Độ là một xứ sở tâm linh, nơi mà đã phát sanh ra những Bậc Thánh Nhân Vĩ đại ở quá khứ, hiện tại và tương lai và cũng là nơi đã nảy sinh nền minh triết Trung  Á

Chúng ta có thể đã từng đi du lịch những nơi như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Thụy Sĩ, Úc, Pháp. v. v. những nơi này đã cho chúng ta nhiều niềm vui, cảnh đẹp, sự hiểu biết thêm về một nơi trên thế giới,  nhưng khi trở về, một thời gian sau cũng  sẽ dễ dàng quên đi, còn lại ngoại trừ những tấm hình.Tuy nhiên Ấn Độ thì khác, niềm vui, niềm an lạc nào mà chúng ta đã có được trong chuyến đi thì khi trở về mỗi khi nghĩ đến vẫn cho ta niềm hoan hỷ, an lạc.Dù rằng có lẻ khi vừa đến Ấn Đô ai cũng sợ và chê bai đủ điều, nhưng khi trở về sẽ nhớ và thương Ấn Độ rất nhiều.Có người được mong mỏi trở lại hoặc sẽ mong người thân của họ được đi.Mỗi lần về Ấn Độ, tôi quan niệm như recharge năng lực để khi trở về tinh tấn tu tập nhiều hơn trong Giáo Pháp của Đức Phật.

Hạnh phúc thay! Đức Phật giáng sinh                                                                          H

Hạnh phúc thay! Giáo Pháp cao minh

Hạnh phúc thay! Tăng Già hòa hợp                                                                            

 Hạnh phúc thay! Tứ Chúng đồng tu      (Kinh Pháp Cú)

 Ghi vội vài hàng với tâm trạng muốn chia xẻ lại những kinh nghiệm hành hương bằng những chặng đường đã đi qua, nhưng về phương diện tâm linh là một kinh nghiệm của mỗi cá nhân phải tự mình cảm nhận.

Mong rằng tất cả chúng ta hãy cố gắng thu xếp công việc và gia đình, dù một lần để về thăm nơi quê hương của Đấng Cha Lành, để cảm nhận về Đức Phật, người đã thực sự đản sanh như một con người trên thế gian này và Giáo Pháp của Ngài đã mang lại niềm an lạc hạnh phúc cho Chư Thiên và loài người trong suốt hơn 2,500 năm qua. Mong lắm thay!